Hiển thị các bài đăng có nhãn Triệu chứng bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triệu chứng bệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014
Lạm dụng dầu Gió, nguy Hại Khôn lường
Dầu gió là tên gọi chung các hỗn hợp tinh dầu thường được sử dụng khi bị cảm mạo. Đây là sản phẩm rất thông dụng, hầu như không nhà nào không có sẵn một vài chai dầu để phòng khi nhức đầu, nghẹt mũi, muỗi đốt, chột bụng, đầy hơi… Nhưng đừng quên dầu gió vẫn là thuốc, không thể xài tuỳ tiện. Đã có trường hợp trẻ nhỏ chết khi chỉ nhỏ một giọt dầu có hàm lượng menthol 1% ! Hiện nay có rất nhiều loại dầu lưu hành trên thị trường với đủ kiểu dáng, màu sắc mà người dân thường gọi là dầu gió xanh, dầu gió nâu, dầu gió đỏ… Đây là sản phẩm không cần kê đơn, có thể tìm mua dễ dàng. Nhiều người thường xuyên dùng dầu gió để hít, thoa, xông hơi, pha nước tắm, uống… đến mức nghiện dầu.
[Cẩm nang chữa bệnh] MẸO CHỮA ĐAU HỌNG HIỆU QUẢ
Bài thuốc trị đau họng từ muối trị khỏi chứng đau họng 100% cho bất cứ ai đã thử áp dụng. Tuy nhiên, đây chỉ là “chữa mẹo” dân gian thôi, chỉ là kinh nghiệm người nọ truyền cho người kia thực sự có tác dụng thôi, không phải là một lời khuyên từ ngành y. Các thuốc trị đau họng thường gặp nhất là loại người ta có thể mua không cần toa như thuốc xịt, kẹo ngậm thơm nhưng không mấy hiệu quả. Nếu là thuốc bác sĩ kê toa thì phải mất thời gian đi khám, bác sĩ thường kê toa kháng sinh mua tốn kém và còn có thể có tác dụng phụ – hết đau họng song bị rối loạn tiêu hóa chẳng hạn. Trong đa số trường hợp, người ta do dự, không biết mình có thực sự đau họng không – chưa quyết định làm gì vội, và thường là… đợi cho đến khi nói, nuốt hay ăn uống khó khăn mới tìm cách đối phó. Thuốc dân gian ở đây chỉ là muối, nhưng không phải là nước muối để xúc miệng, mà ở đây thực sự là sử dụng muối ăn thông thường cứ để y nguyên mà dùng. Việc phải làm rất đơn giản: ngửa đầu, há miệng và rắc một chút muối hạt trực tiếp lên phía sau cuống họng (cuống lưỡi) chứ đừng rắc lên phần giữa hay đầu lưỡi (làm như vậy mới không phải chịu đựng vị mặn tới mức khó chịu). Sau đó cứ để cho muối hòa tan tự nhiên vào nước miếng ở đó, càng lâu càng tốt – cố gắng đừng nuốt vội. Nếu bạn sử dụng lọ muối để rắc, thì có thể rắc từ 2 đến 6 lần tuy theo mức độ đau họng, đau ít rắc 2 lần, nhiều hơn… thì rắc thêm vài lần. Nếu bạn sử dụng gói muối để rắc đi kèm với khay bữa ăn dọn trên xe hay máy bay bạn có thể rắc khoảng 1/4 gói nhỏ trực tiếp lên cuống họng.
[Cẩm nang chữa bệnh] CHỐNG CHỈ ĐỊNH VỚI TRỨNG GÀ
Trong một số trường hợp nhất định, nhất là cơ thể bị các bệnh như: tim mạch, sỏi thận, tiêu chảy… việc ăn trứng gà sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. 1. Bệnh tim mạch Nghiên cứu mới của các nhà khoa học thuộc Đại học Western (Canada) cho thấy rằng, ăn ba quả trứng một tuần có thể làm các mảng bám ở thành động mạch dày lên. Các mảng bám này sẽ thu hẹp không gian bên trong động mạch, khiến máu chảy qua khó khăn hơn, buộc trái tim phải bơm mạnh hơn, làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ. Thêm vào đó, những mảng bám có thể vỡ ra, hình thành các cục máu đông chặn dòng chảy của máu, gây đột quỵ hoặc đau tim. Ngoài ra, hàm lượng cholesterol cao trong trứng gà cũng không tốt cho người bị bệnh xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành vì làm thu hẹp, tắc nghẽn động mạch vành. 2. Bị sỏi mật Trứng gà là thức ăn có hàm lượng đạm rất cao, trong khi đó, do sự kích thích của viên sỏi lâu ngày trong túi mật, chức năng co bóp của túi mật của người bệnh sẽ yếu dần, nếu người bệnh dùng thức ăn có hàm lượng đạm như trứng gà, đường ruột sẽ tiết nhiều chất làm co bóp túi mật, khiến túi mật vốn đã bị bệnh phải làm việc quá tải, từ đó sinh ra các triệu chứng lâm sàng như: gây đau đớn, nôn mửa… Đôi khi, viên sỏi sẽ theo sự co bóp của túi mật di chuyển đến cuống mật, làm tắc lối thông của dịch mật, gây ứ đọng dịch mật, áp suất bên trong mật tăng cao, dẫn đến đau thắt mật và viêm mật. 3.Tiêu chảy Nhiều người cho rằng khi bị tiêu chảy, người bệnh sẽ mất nước và chất dinh dưỡng nên cần bồi bổ cơ thể bằng cách ăn nhiều trứng gà. Thật ra, đây là quan niệm sai lầm. Bởi khi bị tiêu chảy, dịch tiêu hóa sẽ tiết ra ít hơn, hoạt tính men tiêu hóa bị giảm nên việc hấp thu chất mỡ, đạm và đường thường bị rối loạn. Cho nên, việc bổ sung trứng gà (thực phẩm giàu đạm và chất béo) cho người bệnh không những sẽ làm mất đi tác dụng bổ dưỡng cơ thể, mà ngược lại còn làm cho tình trạng bệnh càng nặng thêm. Vì thế, trong thời gian bị tiêu chảy, không được cho người bệnh ăn trứng gà. 4. Sốt Thành phần chủ yếu của trứng gà là chất đạm, trong đó, chủ yếu là nhóm chất đạm có thành phần đơn giản và luôn ở trạng thái hòa tan nên rất dễ hấp thu vào cơ thể, dù vậy sau khi ăn chúng sẽ tạo ra nhiệt lượng rất cao. Do đó, nếu cơ thể đã bị sốt lại còn ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt độ cơ thể tăng lên nhanh chóng, làm tình trạng sốt càng thêm trầm trọng, rất khó hạ sốt. Chính vì vậy, khi chăm sóc người bị sốt, người nhà bệnh nhân nên tránh thêm trứng gà vào thực đơn bổ sung dinh dưỡng. THIÊN KIM (tổng hợp)
KHI NÀO BÉ ĐƯỢC ĂN HẢI SẢN
[Vnexpress, 26/12/2012] – Trừ các loại có vỏ, bạn có thể cho bé ăn cá ở dạng bột sệt hoặc nghiền nhuyễn. Tuy nhiên, đạm trong hải sản nói chung cũng như cá thường hay gây dị ứng cho trẻ vì vậy nên cho bé ăn từ tháng thứ 7 là tốt nhất. Điều quan trọng là cho ăn từ từ, ít một để con thích nghi dần. Trong số các loại hải sản, cá biển là thực phẩm tuyệt vời đối với sức khoẻ do chứa đạm có giá trị sinh học cao với tỷ lệ cân đối, phù hợp với cơ thể người. Cá còn rất giàu chất béo không no omega-3 cần để tạo màng tế bào thần kinh và có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch. Do đó, ăn cá ít nhất 3 lần/tuần rất có lợi cho sức khoẻ. Gan cá còn rất giàu vitamin A và D. Hàu thì rất giàu kẽm là thành phần của hơn 300 enzyme bên trong cơ thể, là chất cần thiết để trẻ tăng trưởng, và cũng rất cần để phát triển hệ sinh dục. Hầu hết các loại hải sản đều giàu canxi (nhất là các loại cá nhỏ ăn được cả xương) nên rất cần cho xương và răng. Tuy nhiên, nếu không biết lựa chọn, bảo quản, chế biến hải sản đúng cách và ăn có mức độ thì có thể “lợi bất cập hại”. - Cá đồng tuy không chứa nhiều các axit béo không no như các biển, nhưng chứa nhiều chất đạm quý, dễ hấp thu, ít gây dị ứng hơn cá biển. Vì thế, khi mới bắt đầu ăn cá các bà mẹ nên cho ăn cá đồng trước, nên chọn cá nạc ít xương như: cá quả, trắm, trê.. - Cá biển thì nên ăn cá hồi, cá thu, cá ngừ… các loại cá này chứa nhiều omega 3 (các axit béo không no rất tốt cho sự phát triển thần kinh và thị giác của trẻ, phát triển trí não giúp bé thông minh hơn) - Tôm cũng là thức ăn giàu đạm và canxi, từ tháng thứ 7 trở đi các bà mẹ có thể cho con ăn tôm đồng, tôm biển. - Cua đồng là thức ăn chứa hàm lượng canxi cao, vì vậy nên cho trẻ ăn thường xuyên để cung cấp canxi cho trẻ. - Các loại hải sản có vỏ như: hàu, ngao, hến, trai … nên cho bé ăn khi đã 1 tuổi, dùng nước nấu cháo, còn thịt xay băm nhỏ. Các loại này chứa nhiều kẽm, vi chất quan trọng với trẻ. Điều quan trọng nhất là khi cho bé ăn hải sản các bà mẹ phải chọn loại tươi, không ăn hải sản đã chết vì dễ gây ngộ độc thức ăn cho bé. Khi trẻ còn trong giai đoạn ăn bột và cháo: tốt nhất là xay, nghiền nhỏ cá, tôm. Nếu là cá đồng nhiều xương, bạn nên luộc chín cá rồi gỡ xương, cá biển nạc có thể xay sống như xay thịt rồi cho vào nấu bột, cháo. Với cua đồng thì giã lọc lấy nước để nấu. Tôm to thì bóc vỏ sau đó xay hoặc băm nhỏ, với tôm quá nhỏ có thể giã lọc lấy nước như nấu bột cua. Với các loại hải sản có vỏ thì luộc chín lấy nước nấu , thịt xay băm nhỏ cho vào cháo, bột. Trẻ đã lớn hơn từ 3 tuổi trở lên, ngoài ăn các loại cháo, mỳ, miến… nấu với hải sản có thể cho bé ăn dạng luộc hấp: cua luộc, ghẹ hấp, luộc, ngao hấp… Lượng hải sản ăn bao nhiêu là đủ? Ngày nào bạn cũng có thể cho bé ăn 1-2 bữa hải sản, nhưng tùy theo tháng tuổi mà lượng ăn mỗi bữa khác nhau: - Trẻ 7-12 tháng: mỗi bữa có thể ăn 20-30g thịt của cá, tôm (đã bỏ xương, vỏ) nấu với bột, cháo, mỗi ngày có thể ăn 1 bữa, tối thiểu ăn 3-4 bữa/tuần. - Trẻ 1-3 tuổi: mỗi ngày ăn 1 bữa hải sản nấu với cháo hoặc ăn mỳ, bún, súp…, mỗi bữa ăn 30- 40 g thịt hải sản. - Trẻ từ 4 tuổi trở lên: có thể ăn 1-2 bữa hải sản/ngày, mỗi bữa có thể ăn 50 – 60g thịt của hải sản, nếu ăn ghẹ có thể ăn ½ con/bữa, tôm to có thể ăn 1 – 2 con/bữa (100g cả vỏ). Thạc sĩ Lê Thị Hải
Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014
[Thuốc dạ dày] CẠO RÂU NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG CÁCH
[VnExpress, 19/3/13] – Cạo râu không đúng cách dẫn tới nguy cơ trầy xước, bội nhiễm da mặt. Không cạo râu vào buổi tối, rửa mặt bằng nước ấm trước và nước lạnh sau khi cạo. Có nhiều định nghĩa về đàn ông không hoàn toàn chính xác. Chẳng hạn, nam giới được mệnh danh là giới mày râu cho dù phần lớn không chú trọng việc kẻ lông mày cho bén mà chỉ cạo râu cho sạch. Chuyện tưởng đơn giản có khi trở thành phức tạp nếu thương tổn da mặt tuy nhỏ nhưng tích lũy mỗi ngày vì anh ta cạo râu không đúng cách. Tùy râu xồm hay lún phún, đàn ông nói chung bỏ ra đến 3.600 giờ để cạo râu trong suốt cuộc đời. Cạo râu đối với da mặt chẳng khác nào một thể dạng stress vì xảy ra mỗi ngày và lúc nào cũng có nguy cơ trầy xướt, bội nhiễm. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh hệ miễn dịch phải hoạt động nhiều hơn, nghĩa là mau kiệt lực ở người cạo râu mỗi ngày, nếu so sánh với người không hẳn lúc nào cũng “đao bất lưu râu”. Chính vì thế cứ cạo râu, nhưng lưu ý những vấn đề dưới đây để đừng nạo da. - Đừng cạo râu vào buổi tối vì da mặt khi đó vừa rất nhạy cảm (đau hơn), vừa không thư giãn như lúc sáng sớm nên dễ trầy mặt. Cạo bằng máy vẫn khó tránh thương tổn vi tế trên mặt da. Nên cạo râu trước khi ăn sáng. Lý do là động tác nhai trong buổi điểm tâm đẩy máu đến vùng hàm, quanh môi và gò mắt. Cạo râu sau khi ăn sáng dễ chảy máu. - Rửa mặt thật sạch bằng nước ấm trước khi cạo để vừa thanh trùng da mặt, vừa mở rộng lỗ chân lông, giúp lưỡi dao “thanh toán chiến trường” gọn nhẹ. - Cạo bằng dao hay bằng máy tùy ý thích mỗi người nhưng lưỡi dao phải bén và nhất là sạch. Đừng quên sạch râu không quan trọng bằng sạch mặt, vì cạo mà khiến da sau đó bội nhiễm thì không nên. - Cạo râu bao giờ cũng theo chiều của sợi râu. Cạo ngược lại là nguyên nhân gây tổn thương lỗ chân… râu. - Rửa bằng nước lạnh sau khi cạo râu để vừa nhanh chóng đóng kín lỗ chân lông, vừa trấn an cảm thụ thần kinh trước hàng loạt kích ứng kéo qua kéo lại của lưỡi dao trên mặt da. - Thoa dung dịch sau khi cạo (after shave) loại có cồn để sát trùng da, nhưng nếu độ cồn quá cao sẽ dễ gây kích ứng và làm da quá khô. - Sau khi cạo râu nên thoa mỏng lớp kem dưỡng da, loại có 5-10% vitamin E, để mượn công năng “2 trong 1”, vừa chống viêm tấy dị ứng trên mặt da, vừa bảo vệ cấu trúc khỏe mạnh của lớp dưới da. Bác sĩ Lương Lễ Hoàng
[Thuốc dạ dày] CÂY VỐI (2 BÀI)
Nước vối: giải khát và chữa bệnh Cây vối, một loại cây quen thuộc của làng quê ở các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ. Từ lâu đời nhân dân ta đã biết sử dụng lá vối hay nụ vối với cách chế biến đơn giản tạo thành loại trà nấu hay hãm lấy nước uống thường ngày. Lá vối cũng có thể dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Đặc biệt nó lại giàu dược tính nên được dùng làm thuốc chữa trị nhiều bệnh chứng rất hiệu quả. Vối được sử dụng có hai loại, một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu vàng xanh gọi là vối kê hay vối nếp; còn loại lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là vối tẻ. Hoa thành chùm tới hàng trăm nụ đan cài vào nhau và nở vào xuân, quả vối chín có màu đỏ thẫm giống quả bồ quân, ăn hơi chát và vị hơi đắng. Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy trong lá và nụ vối chứa tanin, khoáng chất và vitamin… khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu. Đặc biệt chứa một số chất kháng sinh có khả năng diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Streptococcus, Staphylococcus, vi khuẩn bạch hầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis, chính vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm. Gần đây người ta còn phát hiện trong nụ vối chứa một hàm lượng polyphenol cao (tương đương 128mg catechin/gam trọng lượng khô) và hoạt chất ức chế men alpha-glucosidase nên có thể hỗ trợ phòng và điều trị chứng tiểu đường. Các kết quả được tiến hành trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy nụ vối có khả năng triệt tiêu các gốc tự do, chống ô xy hóa mạnh. Khả năng chống ô xy hóa (antioxydants) của nụ vối đã làm giảm sự hình thành đục thủy tinh thể, bảo vệ sự tổn thương tế bào bê-ta tuyến tụy, phục hồi các men chống ô xy hóa trong cơ thể. Theo các kết quả nghiên cứu trên động vật, các nhà khoa học của Viện dinh dưỡng quốc gia và Đại học phụ nữ Nhật Bản đã rút ra kết luận: Nụ vối có khả năng hạn chế tăng đường huyết sau ăn và hỗ trợ ổn định đường huyết, hỗ trợ giảm lipid máu, phòng ngừa biến chứng của đái tháo đường khi điều trị lâu dài mà được sử dụng nước nụ vối uống thường xuyên. Theo Đông y lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng có trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa; mặt khác chất tanin lại bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không làm tổn hại đến những loại vi khuẩn có ích cư trú tại ống tiêu hóa. Kinh nghiệm dân gian cho biết lá vối tươi có công hiệu trị bệnh cao hơn hẳn lá vối đã ủ. Do vậy lá vối nấu nước uống có khả năng trợ giúp chữa trị các bệnh chứng hoặc các tổn thương như bỏng, viêm gan, vàng da, viêm da lở ngứa. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác; được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa… Song nước vối còn là loại có công hiệu giải khát trong những ngày hè nóng nực, làm mát và lợi tiểu nên còn có công năng đào thải các độc chất trong cơ thể qua đường niệu. Các nghiên cứu còn cho thấy nếu chỉ uống nước lọc hoặc nước trắng thì sau 30 – 40 phút là cơ thể đào thải hết; nhưng nếu uống nước lá vối hoặc nụ vối thì cũng trong thời gian ấy cơ thể chỉ thải loại 1/5 lượng nước đã uống, phần còn lại sẽ được đào thải từ từ sau đó. Dưới đây là vài phương thuốc trị liệu có dùng vối. Trị đau bụng đi ngoài: Lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 – 3 ngày. Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 – 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày. Hoặc nụ vối 10 – 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày. Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở. Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 – 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm. Hỗ trợ trị tiểu đường: Nụ vối 15 – 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên. Theo suckhoedoisong Tác dụng không ngờ của cây vối trong điều trị bệnh tiểu đường Người bệnh tiểu đường nếu uống thường xuyên chè nụ vối sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống ôxy hóa tế bào, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy. Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus, thuộc họ Sim (Myrtaceae). Ở nước ta cây vối mọc hoang hoặc trồng. Cây vối thường cao chừng 5 – 6 m, cuống lá dài 1- 1,5 cm. Phiến lá cây vối dai, cứng. Hoa vối gần như không cuống, màu lục nhạt, trắng. Quả vối hình trứng, đường kính 7 – 12 mm, có dịch. Lá, cành non và nụ vối đều có mùi thơm dễ chịu đặc biệt của vối. Loài cây giàu dược tính Ở nước ta, từ lâu, cây vối (lá, nụ, vỏ, rễ) được người dân dùng làm trà uống giải khát. Lá vối có tác dụng kiện tì, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng, chát trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa, chất tanin bảo vệ niêm mạc ruột, tinh dầu vối có tính kháng khuẩn nhưng đặc biệt không hại vi khuẩn có ích trong ruột. Theo tài liệu nghiên cứu của GS Đỗ Tất Lợi, lá và nụ vối có chất kháng sinh thực vật, diệt được nhiều mầm vi khuẩn gây bệnh, kể cả vi trùng Gram- và Gram+. Theo đông y, vối có vị hơi chát, tính mát, không độc, tác dụng thanh nhiệt giải biểu, tiêu trệ, sát khuẩn. Dân gian thường dùng lá, vỏ, thân, hoa làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, mụn nhọt, viêm đại tràng mạn tính, lỵ trực trùng. Nghiên cứu của Viện Đông y cho thấy nụ vối và lá vối có tác dụng kháng sinh đối các nhiều loại vi khuẩn như Gram+,Gram-, vi trùng bạch hầu…, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis,… và không gây độc hại đối với cơ thể. Cây vối có tiềm năng chữa bệnh rất cao. Nhiều nghiên cứu về dược tính của cây vối trong những năm qua cho thấy thành phần hoạt tính của nụ vối là một hợp chất polyphenol có tên là 2′,4′-dihydroxy-6′-methoxy-3′,5′dimethylchalcone. Chính chất này đã tạo ra hiệu ứng đảo ngược trên các tế bào ung thư đa kháng thuốc (Multidrug resistance). Nụ vối hỗ trợ trị tiểu đường Một nghiên cứu gây chú ý là tác dụng của nụ vối trong việc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng giữa Viện Dinh dưỡng quốc gia (Việt Nam) và Đại học Phụ nữ Nhật Bản đã chứng minh các hợp chất flavonoid trong chè nụ vối rất hiệu quả trong việc hỗ trợ phòng và điều trị bệnh nhân tiểu đường. Người bệnh tiểu đường nếu uống thường xuyên chè nụ vối sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống ôxy hóa tế bào, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy, phòng ngừa đục thủy tinh thể ở người bệnh tiểu đường và giúp tăng chuyển hóa cơ bản. Điều đặc biệt là uống nụ vối không có tác dụng phụ đáng kể nên có thể uống thường xuyên. Chính những tác dụng chữa bệnh đa dạng và hiệu quả của nụ vối, hiện nay các nhà sản xuất đã có nhiều sản phẩm về nụ vối như trà vối túi lọc, cao vối… Giá nụ vối cũng không cao, khoảng từ 100.000 – 120.000 đồng/kg, có bán ở nhiều tỉnh phía Bắc. Tại TPHCM cũng có thể mua được nụ vối ở nhiều nơi, nhiều nhất là trên đường Phạm Văn Hai (quận Tân Bình), nơi bán các đặc sản miền Bắc. Một số phương thuốc trị liệu đơn giản với cây vối: Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 – 20 g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hoặc nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm. Dùng 5 loại hoa, gồm nụ vối, kim ngân hoa, hoa cúc, hoa đại, hoa mộc miên (hoa gạo), chế thành dạng trà, uống mỗi ngày, rất tốt cho cơ thể. Trị đau bụng đi ngoài, phân sống: Lá vối 3 cái, vỏ ổi 8 g, núm quả chuối tiêu 10 g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 – 3 ngày. Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 – 12 g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày hoặc dùng nụ vối 10 – 15 g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày. Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lá vối vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu. Viêm gan, vàng da: Dùng rễ vối 200 g sắc uống mỗi ngày. Chữa viêm đại tràng mạn tính, đau bụng âm ỉ, thường xuyên đi phân sống: 200 g lá vối tươi, vò nát, dùng 2 lít nước sôi, ngâm trong 1 giờ để uống thay nước. AloBacsi.vn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)