Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014
3 bí quyết Dạy trẻ Học kiên nhẫn
Để rèn cho trẻ tính kiên nhẫn, cha mẹ phải biết tính cách và sở thích của trẻ, sau đó lấy mình ra làm gương. Các chuyên gia tâm lý cho rằng, tính nhẫn nại của trẻ em so với người lớn thường không tốt bằng, tuy nhiên nếu các bậc phụ huynh chịu khó rèn cho bé đức tính kiên nhẫn ngay từ bé thì điều này sẽ rất có lợi với sự phát triển của bé sau này. Nếu ngay từ bé, trẻ đã nhận được những cách giáo dục không tốt và không đúng phương pháp thì khi lớn lên, trẻ sẽ có tính cách mà cha mẹ không ai mong muốn. Để rèn cho trẻ tính kiên nhẫn, trước tiên, các bậc phụ huynh cần nắm rõ tuổi tác, tính cách và sở thích của trẻ, sau đó lấy mình ra làm gương. Tất nhiên là nếu các bậc phụ huynh cũng là người nôn nóng thì sẽ rất khó lòng dạy trẻ học tính kiên nhẫn. Phương pháp 1: Để trẻ “học” cách chờ đợi
[Cẩm nang chữa bệnh] CHỐNG CHỈ ĐỊNH VỚI TRỨNG GÀ
Trong một số trường hợp nhất định, nhất là cơ thể bị các bệnh như: tim mạch, sỏi thận, tiêu chảy… việc ăn trứng gà sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. 1. Bệnh tim mạch Nghiên cứu mới của các nhà khoa học thuộc Đại học Western (Canada) cho thấy rằng, ăn ba quả trứng một tuần có thể làm các mảng bám ở thành động mạch dày lên. Các mảng bám này sẽ thu hẹp không gian bên trong động mạch, khiến máu chảy qua khó khăn hơn, buộc trái tim phải bơm mạnh hơn, làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ. Thêm vào đó, những mảng bám có thể vỡ ra, hình thành các cục máu đông chặn dòng chảy của máu, gây đột quỵ hoặc đau tim. Ngoài ra, hàm lượng cholesterol cao trong trứng gà cũng không tốt cho người bị bệnh xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành vì làm thu hẹp, tắc nghẽn động mạch vành. 2. Bị sỏi mật Trứng gà là thức ăn có hàm lượng đạm rất cao, trong khi đó, do sự kích thích của viên sỏi lâu ngày trong túi mật, chức năng co bóp của túi mật của người bệnh sẽ yếu dần, nếu người bệnh dùng thức ăn có hàm lượng đạm như trứng gà, đường ruột sẽ tiết nhiều chất làm co bóp túi mật, khiến túi mật vốn đã bị bệnh phải làm việc quá tải, từ đó sinh ra các triệu chứng lâm sàng như: gây đau đớn, nôn mửa… Đôi khi, viên sỏi sẽ theo sự co bóp của túi mật di chuyển đến cuống mật, làm tắc lối thông của dịch mật, gây ứ đọng dịch mật, áp suất bên trong mật tăng cao, dẫn đến đau thắt mật và viêm mật. 3.Tiêu chảy Nhiều người cho rằng khi bị tiêu chảy, người bệnh sẽ mất nước và chất dinh dưỡng nên cần bồi bổ cơ thể bằng cách ăn nhiều trứng gà. Thật ra, đây là quan niệm sai lầm. Bởi khi bị tiêu chảy, dịch tiêu hóa sẽ tiết ra ít hơn, hoạt tính men tiêu hóa bị giảm nên việc hấp thu chất mỡ, đạm và đường thường bị rối loạn. Cho nên, việc bổ sung trứng gà (thực phẩm giàu đạm và chất béo) cho người bệnh không những sẽ làm mất đi tác dụng bổ dưỡng cơ thể, mà ngược lại còn làm cho tình trạng bệnh càng nặng thêm. Vì thế, trong thời gian bị tiêu chảy, không được cho người bệnh ăn trứng gà. 4. Sốt Thành phần chủ yếu của trứng gà là chất đạm, trong đó, chủ yếu là nhóm chất đạm có thành phần đơn giản và luôn ở trạng thái hòa tan nên rất dễ hấp thu vào cơ thể, dù vậy sau khi ăn chúng sẽ tạo ra nhiệt lượng rất cao. Do đó, nếu cơ thể đã bị sốt lại còn ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt độ cơ thể tăng lên nhanh chóng, làm tình trạng sốt càng thêm trầm trọng, rất khó hạ sốt. Chính vì vậy, khi chăm sóc người bị sốt, người nhà bệnh nhân nên tránh thêm trứng gà vào thực đơn bổ sung dinh dưỡng. THIÊN KIM (tổng hợp)
KHI NÀO BÉ ĐƯỢC ĂN HẢI SẢN
[Vnexpress, 26/12/2012] – Trừ các loại có vỏ, bạn có thể cho bé ăn cá ở dạng bột sệt hoặc nghiền nhuyễn. Tuy nhiên, đạm trong hải sản nói chung cũng như cá thường hay gây dị ứng cho trẻ vì vậy nên cho bé ăn từ tháng thứ 7 là tốt nhất. Điều quan trọng là cho ăn từ từ, ít một để con thích nghi dần. Trong số các loại hải sản, cá biển là thực phẩm tuyệt vời đối với sức khoẻ do chứa đạm có giá trị sinh học cao với tỷ lệ cân đối, phù hợp với cơ thể người. Cá còn rất giàu chất béo không no omega-3 cần để tạo màng tế bào thần kinh và có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch. Do đó, ăn cá ít nhất 3 lần/tuần rất có lợi cho sức khoẻ. Gan cá còn rất giàu vitamin A và D. Hàu thì rất giàu kẽm là thành phần của hơn 300 enzyme bên trong cơ thể, là chất cần thiết để trẻ tăng trưởng, và cũng rất cần để phát triển hệ sinh dục. Hầu hết các loại hải sản đều giàu canxi (nhất là các loại cá nhỏ ăn được cả xương) nên rất cần cho xương và răng. Tuy nhiên, nếu không biết lựa chọn, bảo quản, chế biến hải sản đúng cách và ăn có mức độ thì có thể “lợi bất cập hại”. - Cá đồng tuy không chứa nhiều các axit béo không no như các biển, nhưng chứa nhiều chất đạm quý, dễ hấp thu, ít gây dị ứng hơn cá biển. Vì thế, khi mới bắt đầu ăn cá các bà mẹ nên cho ăn cá đồng trước, nên chọn cá nạc ít xương như: cá quả, trắm, trê.. - Cá biển thì nên ăn cá hồi, cá thu, cá ngừ… các loại cá này chứa nhiều omega 3 (các axit béo không no rất tốt cho sự phát triển thần kinh và thị giác của trẻ, phát triển trí não giúp bé thông minh hơn) - Tôm cũng là thức ăn giàu đạm và canxi, từ tháng thứ 7 trở đi các bà mẹ có thể cho con ăn tôm đồng, tôm biển. - Cua đồng là thức ăn chứa hàm lượng canxi cao, vì vậy nên cho trẻ ăn thường xuyên để cung cấp canxi cho trẻ. - Các loại hải sản có vỏ như: hàu, ngao, hến, trai … nên cho bé ăn khi đã 1 tuổi, dùng nước nấu cháo, còn thịt xay băm nhỏ. Các loại này chứa nhiều kẽm, vi chất quan trọng với trẻ. Điều quan trọng nhất là khi cho bé ăn hải sản các bà mẹ phải chọn loại tươi, không ăn hải sản đã chết vì dễ gây ngộ độc thức ăn cho bé. Khi trẻ còn trong giai đoạn ăn bột và cháo: tốt nhất là xay, nghiền nhỏ cá, tôm. Nếu là cá đồng nhiều xương, bạn nên luộc chín cá rồi gỡ xương, cá biển nạc có thể xay sống như xay thịt rồi cho vào nấu bột, cháo. Với cua đồng thì giã lọc lấy nước để nấu. Tôm to thì bóc vỏ sau đó xay hoặc băm nhỏ, với tôm quá nhỏ có thể giã lọc lấy nước như nấu bột cua. Với các loại hải sản có vỏ thì luộc chín lấy nước nấu , thịt xay băm nhỏ cho vào cháo, bột. Trẻ đã lớn hơn từ 3 tuổi trở lên, ngoài ăn các loại cháo, mỳ, miến… nấu với hải sản có thể cho bé ăn dạng luộc hấp: cua luộc, ghẹ hấp, luộc, ngao hấp… Lượng hải sản ăn bao nhiêu là đủ? Ngày nào bạn cũng có thể cho bé ăn 1-2 bữa hải sản, nhưng tùy theo tháng tuổi mà lượng ăn mỗi bữa khác nhau: - Trẻ 7-12 tháng: mỗi bữa có thể ăn 20-30g thịt của cá, tôm (đã bỏ xương, vỏ) nấu với bột, cháo, mỗi ngày có thể ăn 1 bữa, tối thiểu ăn 3-4 bữa/tuần. - Trẻ 1-3 tuổi: mỗi ngày ăn 1 bữa hải sản nấu với cháo hoặc ăn mỳ, bún, súp…, mỗi bữa ăn 30- 40 g thịt hải sản. - Trẻ từ 4 tuổi trở lên: có thể ăn 1-2 bữa hải sản/ngày, mỗi bữa có thể ăn 50 – 60g thịt của hải sản, nếu ăn ghẹ có thể ăn ½ con/bữa, tôm to có thể ăn 1 – 2 con/bữa (100g cả vỏ). Thạc sĩ Lê Thị Hải
Rau Muống (6 bài)
Bai 1. Mẹo nấu canh rau muống sấu ngon Từ những quả sấu nhỏ, bạn có thể chế biến rất nhiều món có tác dụng thanh nhiệt trong mùa hè với cách làm khá đơn giản. Dưới đây là một số bí quyết để có bát canh rau muống sấu ngon ngon. Không nên để cả vỏ sấu để nấu canh vì sấu cạo sạch vỏ sẽ giúp nước canh rau muống khi luộc xong không bị chát. Cho nước lạnh và sấu đã cạo vỏ vào nồi, thêm chút muối để rau muống có màu xanh hơn. Chờ nước sôi (nhìn bên ngoài sấu có màu vàng), cho rau muống vào luộc cùng. Nhớ là đừng đậy vung và đừng dầm sấu ra vội. Khi rau muống vừa chín, vớt rau ra đĩa. Nước canh luộc có sấu chờ nguội bớt rồi mới dầm sấu trên môi. Sau đó hòa sấu đã dầm vào nước canh. Dùng 2,3 quả sấu dầm vào bát nước mắm, thêm tỏi để chấm rau muống luộc. Chắc chắn bạn sẽ có một bữa cơm trưa hè nhẹ nhàng và ngon miệng hơn. Theo Món ngon HN Bai 2. Rau muống: Ăn để trị bệnh Các món ăn được chế biến từ rau muống như: luộc, xào tỏi, nấu canh, cuốn cá nục hấp… đều rất ngon, có tính giải nhiệt nên được nhiều người thích. Rau muống còn gọi là rau bìm bìm nước, có hai loại: rau muống nước (trồng bằng cách cắt cọng già rồi trồng thả trên nước) và rau muống cạn (trồng bằng hạt theo luống đất cạn, thường bò trên đất, thân rỗng, dày, có đốt, mặt ngoài nhẵn). Trong rau muống có chứa 92% nước, các chất protit, gluxit, xenlulozơ, tro, can xi, photpho, sắt, caroten, vitamin, vitamin B1, vitamin PP, vitamin B2 …, và nhiều chất nhầy. Rau muống có tác dụng chống táo bón. Khi bị sốt cao, khó thở có thể dùng thân rau muống với mướp đắng và lá xoan giã nát đắp lên ngực hoặc lên trán để hạ nhiệt. Khi bị “giời leo” nên dùng đọt rau muống, lá vòi voi, mỗi thứ 5-10 đọt, giã nát rồi đắp lên chỗ viêm loét. Đặc biệt, trong ngọn rau muống còn có một chất giống như insulin, vì vậy những bệnh nhân đái tháo đường nên ăn 5-10 ngọn rau muống trước bữa ăn khoảng 30 phút. Theo kinh nghiệm dân gian, những người bị viêm đau, nhức khớp, bệnh gout (thống phong) và các viêm nhiễm đường tiết niệu thận do sỏi, huyết áp cao không nên ăn rau muống; hoặc khi đang điều trị bệnh nội khoa, ngoại khoa nào đó cũng không nên dùng. Ngược lại, với bệnh nhân loãng xương đơn thuần, huyết áp thấp 90/60 mmHg, ăn rau muống vẫn tốt do hàm lượng can xi cao. Theo Thanh Niên Online Bai 3. Rau muống – vị thuốc giải độc Nếu bị ngộ độc nấm, lá ngón, thủy ngân, trong lúc chờ đi bệnh viện, tạm thời lấy rau muống tươi (1 kg rửa sạch) giã nát, vắt lấy nước uống. Thuốc sẽ có tác dụng giải độc nhất định. Ngoài ra, những người bị ngộ độc sắn (say sắn) cũng có thể uống nước rau muống giã nát, sẽ khỏi say và giải độc. Một số tác dụng khác của rau muống: Sinh da thịt: Khi bị mụn nhọt lở loét miệng lõm sâu, ăn rau muống có thể làm cho mụn chóng lành da thịt đầy lên. Tuy nhiên, người bị vết thương rách da có cơ địa sẹo lồi nên kiêng ăn rau muống trong quá trình liền sẹo. Chữa viêm lưỡi, miệng, môi do thiếu vitamin B12: Nấu canh rau muống 100 g với hành tươi 50 g, ăn với cơm hằng ngày, nếu bị viêm nhẹ thì sau 3-5 ngày là khỏi. Chữa ho ra máu: Rau muống và củ cải tươi lượng bằng nhau, giã nát, vắt lấy khoảng 150 ml nước, thêm một ít mật ong quấy đều uống. Chữa chảy máu cam: Lấy cuộng rau muống giã nát, thêm ít đường hoặc mật ong rồi hòa thêm nước sôi uống, một lát máu cam sẽ cầm. Chữa đại tiện hoặc tiểu tiện ra máu: Lấy lá hoặc cuộng non rau muống giã nát, trộn thêm một ít mật ong uống, rất công hiệu. Chữa táo bón: Rau muống có tác dụng nhuận tràng, khi bị táo bón có thể uống nước rau muống luộc thay cho nước khi khát. Cải thiện bệnh tiểu đường: Lấy 100 g rau muống tía rửa sạch và thái nhỏ, thịt lợn nạc 100 g băm nhỏ, củ năn (củ mã thầy) gọt bỏ vỏ rửa sạch. Cho 100 g gạo vào nồi nấu chín thành cháo, sau đó bỏ rau muống, thịt và củ năn vào nấu tiếp đến khi thịt chín là được. Khi ăn có thể cho thêm muối, hành, gừng. Thứ cháo này có công dụng rất tốt với người bị tiểu đường, ngoài ra nó còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc và cầm máu. BS. Đỗ Minh Hiền Bai 4. RAU MUỐNG VÀ TÁC DỤNG THANH NHIỆT GIẢI ĐỘC Tác giả : BS. PHÓ ĐỨC THUẦN Rau muống có nhiều ở các nước nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Đại dương. Đặc biệt đây là món ăn rất phổ biến và quen thuộc của người dân nước ta. Ca dao Việt Nam đã có câu: “Anh đi anh nhớ quê nhà; Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Rau muống có hai loại trắng và tía, mỗi loại có đặc tính riêng. Cả hai loại có thể trồng trên cạn hoặc dưới nước. Theo y học cổ truyền, rau muống còn là một vị thuốc có thể chữa được nhiều căn bệnh. Công dụng của rau muống theo y học cổ truyền Theo y học cổ truyền phương Đông, rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (nấu chín thì giảm lạnh). Vào các kinh can, tâm, đại trường, tiểu trường. Công dụng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, thông đại tiểu tiện, giải tất cả các chất độc xâm nhập vào cơ thể (nấm độc, sắn độc, cá thịt độc, lá ngón, thạch tín (?), khuẩn độc hoặc do côn trùng, rắn rết cắn. Tên chữ Hán là Úng thái, Không tâm thái, Thông thái… Tên khoa học Ipomoea aquatica Forsk, thuộc họ Khoai lang Convolvulaceae. Một số cách dùng cụ thể Rau muống có nhiều tính năng và tác dụng trong việc phòng và chữa bệnh. Xin giới thiệu một số công dụng cụ thể sau: Thanh nhiệt giải độc mùa hè: Luộc rau muống đúng cách (nước sôi cho ít muối, để sôi lại mới cho rau vào đảo đều), bấm cuống thấy mềm, vớt ra rổ thưa, rải rời cho ráo nước. Chấm tương hoặc nước mắm chanh ớt ăn với cà pháo muối nén. Nước luộc để nguội vắt chanh. Đây là một món ăn bài thuốc dùng cho bà mẹ có thai thiếu sắt, bà mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, người táo bón, tiểu đục, huyết áp cao, nhịp tim nhanh, phòng còi xương cho trẻ (lấy nước luộc rau muống nấu bột). Thanh nhiệt, lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước mát, ù tai chóng mặt: Rau muống 150g, Cúc hoa 12g, nước vừa dùng, đun sôi lửa to 20 phút. Lọc lấy nước uống. Có thể cho thêm chút đường. Đau đầu trong trường hợp huyết áp cao: Khi luộc rau muống cho thêm ít giấm (tuy nhiên không thể dùng thường xuyên, lâu dài để chữa bệnh cao huyết áp thay thuốc đặc hiệu). Chứng kiết lỵ thường xảy ra vào mùa hè thu, ban đầu bị tiêu chảy do thấp nhiệt, sau chuyển sang kiết lỵ – phân có chất nhầy, màu đỏ trắng, đau thắt bụng. Lấy 400g cọng rau muống tươi, thêm một ít vỏ quýt khô để lâu (trần bì) nấu với nhiều nước, để lửa nhỏ trong vài giờ rồi uống. Đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng: Rau muống 20g, rau má 20g, rau sam 16g, cỏ mực 20g, vỏ quýt khô 12g. Tất cả sao qua, cho vào ấm, đổ 500ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống lúc đói. Say sắn, ngộ độc sắn (khoai mì): Dùng một nắm rau muống rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. Hoặc lấy 100g rau muống cắt đoạn, cám gạo tẻ 50g, trộn vào giã nhuyễn, thêm nước cho loãng để uống. Giải các chất độc trong thức ăn (ngộ độc thức ăn) do không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và ngộ độc lá ngón, thạch tín (?). Giã rau muống tươi lấy nước cốt uống ngay. Đây là kinh nghiệm dân gian đã được ghi lại trong nhiều sách thuốc. Ngày nay, ta chỉ nên dùng phương pháp này để sơ cứu tức thời nhằm hạn chế độc tính, sau đó phải đưa bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu tích cực vì những chất nói trên rất độc và dễ gây tử vong. Các chứng bệnh chảy máu như chảy máu cam, ho nôn ra máu; Tiêu tiểu ra máu, trĩ, lỵ ra máu… Giã rau muống, uống nước cốt hoặc thêm đường hay mật ong. Sản phụ khó sinh: Giã rau muống lấy nước cốt hòa ít rượu cho uống. Khí hư bạch đới: Rau muống cả rễ 500g; Hoa dâm bụt trắng 250g hầm với thịt heo hoặc thịt gà, ăn thịt uống nước. Phù thũng toàn thân do thận, bí tiểu tiện: Rau muống 1 nắm, râu ngô 12g, rễ tranh 12g; Sắc nước uống một lần. Hoặc rau muống 1 bó, rửa sạch, thái nhỏ. Gà vàng (lông vàng, chân vàng, da vàng) một con làm sạch, bỏ lòng, nhồi rau muống vào, hầm nhừ, thêm ít rượu. Khi chín bỏ rau ăn thịt gà. Ăn độ 3 con. Trong sách có dặn cố gắng làm sạch nhưng hạn chế rửa nhiều nước. Đái tháo đường: Rau muống 60g, râu ngô 30g. Nấu nước uống (Dùng rau muống tía tốt hơn rau muống trắng). Quai bị: Rau muống 200-400g luộc kỹ, ăn cả rau lẫn nước. Có thể pha đường vào nước rau. Chứng đẹn trong miệng hoặc lở khóe miệng ở trẻ em: Rau muống tươi 100g, củ hành lá 50g, nấu canh, nêm muối vừa ăn. Lở ngứa, loét ngoài da, zona (giời leo): Ngọn rau muống và lá cây vòi voi rửa thật sạch với ít nước muối, giã nhuyễn đắp lên vết thương. Rắn giun (loài rắn chỉ bằng con giun đất), ong cắn: Lấy rau muống tía 7 cái (?) giã nhuyễn, vắt nước uống, bã đắp vào vết cắn. Rôm sẩy, mẩn ngứa; Sởi, thủy đậu ở trẻ em: Dùng nước nấu rau muống xoa, rửa, tắm. Có một tài liệu còn đề cập đến công dụng phòng chữa liệt dương của rau muống. Phải chăng là do vai trò của các acid amin trong rau muống tạo ra, chẳng hạn Arginine với tác dụng tăng NO nội sinh? Liên hệ Tây y, vì rau muống giàu caroten, vitamin C, sắt và calci nên ta có thể dùng rau muống khi bị thiếu các chất này. Những trường hợp dùng rau muống phải thận trọng - Huyết áp thấp; Huyết áp cao, nhịp tim chậm. - Suy nhược nặng, hư hàn. - Với vết thương, mụn nhọt đang trong quá trình lành, rau muống có thể làm sẹo lồi xấu. - Đang uống thuốc Đông y, nếu ăn rau muống sẽ làm giã thuốc, nhất là khi trong thuốc có vị độc cần thiết để chữa bệnh (độc trị độc) và sẽ làm giảm hiệu quả điều trị. Chú thích ảnh: Rau muống có thể phòng còi xương cho trẻ. Bai 5. Trị rôm sẩy, giải độc bằng rau muống Theo y học cổ truyền, rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (nấu chín thì giảm lạnh). Công dụng thanh nhiệt, thông đại tiểu tiện, giải tất cả các chất độc xâm nhập cơ thể. Rau muống có nhiều tính năng và tác dụng trong phòng và chữa bệnh. Xin giới thiệu một số công dụng dễ thực hành: Rắn cắn, ong chích: lấy rau muống tía bảy ngọn giã nhuyễn, vắt nước uống, bã đắp vào vết cắn.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)